Chính sách văn hóa Hàn Quốc (Phần 3)

0
587

5. Các chính sách văn hoá trong từng lĩnh vực

Luật Phát triển Văn hoá và Nghệ thuật Hàn Quốc định nghĩa về văn hoá và nghệ thuật là phạm vi bao gồm văn học, mỹ thuật, âm nhạc, múa, nhà hát, điện ảnh, giải trí, âm nhạc truyền thống, nhiếp ảnh, ngôn ngữ và xuất bản. Dựa trên định nghĩa này, mỗi chính sách văn hoá được đưa ra cho từng lĩnh vực.

5.1. Di sản văn hoá

Trang wen giới thiệu di sản văn hóa Hàn Quốc: http://www.heritage.go.kr
Trang wen giới thiệu di sản văn hóa Hàn Quốc: http://www.heritage.go.kr

Một trong những trách nhiệm chính của Bộ Văn hoá và Thể thao là bảo tồn di sản văn hoá quốc gia. Một phần ngân sách nhất định đuợc phân bổ cho các hoạt động hỗ trợ phát triển các bảo tang, công viên quốc gia, thư viện, trung tâm lưu trữ quốc gia, các di sản văn hoá di chuyển được và không di chuyển được và bảo vệ môi trường quốc gia và các loài động vật gặp nguy hiểm. Số lượng các bảo tàng ở Hàn quốc vào năm 1996 là 182 với 23 bảo tàng chính của quốc gia như bảo tàng lịch sử, nghệ thuật, khoa học, dân gian, bưu chính và đường sắt nằm dưới sự điều hành và quản lý của chính phủ.Chức năng bảo tồn di sản văn hóa như tu bổ các cung điện lịch sử được thực hiện bởi Cục Quản lý Tài sản Văn hoá. Các bộ phận bảo tàng trực thuộc cũng được thành lập tại các bảo tàng lớn của Hàn quốc tại nước ngoài như Anh, Pháp, Nhật Bản, Mỹ..vv. Các tổ chức trực thuộc này do Hiệp hội Văn hoá và nghệ thuật Hàn Quốc và Hội bảo trợ ngành kinh tế tư nhân hỗ trợ về tài chính.

Vào năm 1996, Hàn Quốc có 20 công viên quốc gia. Bộ Văn hóa và Thể thao chịu trách nhiệm về quản lý các tài sản văn hoá hiện có tại các công viên quốc gia này như đền, chùa, các công trình lớn về tự nhiên, các loài động vật đang gặp nguy hiểm trong khi Bộ Quản lý nhà nước và tự trị địa phương chịu trách nhiệm về công tác bảo tồn các công viên này. Bộ cũng đã sửa đổi luật Công Viên Quốc Gia vào năm 1996 để bảo vệ các khu di tích hoạt động.

Bộ đã tiến hành sửa đổi Luật Công viên quốc gia vào năm 1996 để bảo vệ các công viên quốc gia khỏi những tác động từ các phương tiện giải trí và hoạt động thể thao. Trong năm 1997, 52,7 tỉ won (55,2 triệu đô la Mỹ) đã được tiêu tốn cho việc duy trì hoạt động của các công viên quốc gia, 108 tỉ won (113,4 triệu đô la) cho công tác bảo tồn các di sản văn hóa và 73.3 đô la cho hoạt động của các bảo tàng quốc gia và 26,1 đô la để duy trì các bảo tàng dân tộc…vv. 5 khu di sản văn hóa quốc gia của Hàn Quốc nằm trong danh sách các di sản văn hóa thế giới của tổ chức UNESCO bao gồm:  Đền okkuram Grotto and Pulguksa (1995), đền Changgyoung P’ango, Kho cất giữ tấm ván cổ của người Tripitaka (1995), Lăng mộ cổ Chongmyo (1995) và Lâu đài Suwon Whasung (1997) và Cung điện Changduk.

Cục Quản lý Tài sản Văn hoá có nhiệm vụ chính trong thực hiện công tác bảo tồn di sản văn hoá và các hoạt động khác nhau như quản lý, nghiên cứu, khai quật, trùng tu các khu di tích văn hoá, hợp tác quốc tế về văn hóa. Đồng thời Cục Quản lý Tài sản Văn hóa cũng thực hiện chức năng công nhận các di sản văn hóa quốc gia.

Vào năm 1995, Cục Quản lý Tài sản Văn hóa công nhận tổng số 2.514 tài sản văn hóa quốc gia bao gồm 286 đồ vật lịch sử quốc gia và 1.228 các tài sản văn hóa có gia trị khác. Chính quyền cấp địa phương cũng đã công nhận tổng số 2.929 tài sản văn hóa quốc gia.

5.2 Giáo dục và đào tạo về văn hóa

Giáo dục văn hóa ở Hàn Quốc được tiến hành trong các trường công lập từ bậc tiểu học cho đến đại học. Các trường cung cấp nền tảng giáo dục về các điều kiện sáng tạo và đánh giá về nghệ thuật. Nhiều loại hình tổ chức giáo dục dài hạn đã được thành lập ở các địa phương nơi người dân có cơ hội tham gia các khóa học đào tạo về sáng tạo hoặc đánh giá về nghệ thuật và văn hóa.

Giáo dục dành cho các nhà nghệ thuật chuyên nghiệp chủ yếu được thực hiện thông qua các tổ chức giáo dục bậc đại học. Theo các số liệu thống kê năm 1995, 255 chuyên nghành về nghệ thuật được đào tạo trong các trường cao đẳng và 375 trường đại học. Hàng năm có 39.280 sinh viên tốt nghiệp trong đó 119.178 sinh viên chuyên ngành nghệ thuật. Số lượng các chương trình thông tin trên truyền hình và các nghiên cứu về văn hóa tăng nhanh trong thời gian gần đây.

Đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về nghệ thuật, Viện Nghệ thuật quôc gia Hàn quốc được thành lập năm 1991 với mục đích cung cấp một nền giáo dục có hệ thống cho tài năng trẻ của đất nước để tạo ra một thế hệ các nhà nghệ thuật chuyên nghiệp. Viện bao gồm Trường dạy Âm nhạc, Trường dạy kịch, Trường dạy múa và trường dạy nghệ thuật.

5.3. Chính sách Ngôn ngữ

Nền tảng chính sách ngôn ngữ của Hàn quốc là sự khuyến khích người dân có kiến thức sâu rộng và phát triển ngôn ngữ quốc gia cũng như khuyến khích các yếu tố đặc sắc của ngôn ngữ trong phạm vi quốc gia và trên thế giới.

Vua Sejong, người có công sáng tạo ra bảng chữ cái tiếng Hàn Hangeul
Vua Sejong, người có công sáng tạo ra bảng chữ cái tiếng Hàn Hangeul

Chính sách ngôn ngữ đề cập đến một số các nội dung như thay thế ngôn ngữ nước ngoài mà trước đây thường sử dụng chữ Trung Quốc bằng tiếng Hàn Quốc, khuyến khích các phương tiện truyền thông sử dụng ngôn ngữ tiêu chuẩn…vv. Viện Ngôn ngữ quốc gia  được thành lập theo Nghị định của Thủ tướng ban hành năm 1990 để đóng góp vào sự phát triển văn hoá ngôn ngữ Hàn Quốc và đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định chính sách về ngôn ngữ. Nhiệm vụ của Viện là thực hiện các cuộc nghiên cứu về khoa học và hệ thống để cung cấp nền tảng cơ bản cho một chính sách ngôn ngữ quốc gia. Viện cũng thiết lập các tiêu chuẩn về ngôn ngữ Hàn Quốc liên quan đến các khía cạnh như phép chính tả, khoảng cách từ và thể thức viết hoặc nói..vv. Trên phạm vi quốc gia, Viện có chức năng thu thập và tổng hợp các ngôn ngữ được sử dụng bởi người dân ở cả miền Bắc và miền Nam Hàn Quốc để đưa ra một ngôn ngữ thống nhất quốc gia. Trên phạm vi thế giới, Viện giới thiệu nền văn học Hàn Quốc với bạn bè quốc tế và xuất bản các loại sách về Tiếng Hàn Quốc để phục vự người học nước ngoài.

5.4. Thư viện và Bảo tàng

Năm 1996,  tổng số 10.244 thư viện đang hoạt động trên khắp Hàn Quốc. Chúng bao gồm một thư viện quốc gia, một thư viện quốc hội, 329 thư viện công cộng, 378 thư viện thuộc các trường đại học, 9.117 thư viện trường học và 418 thư viện chuyên ngành. Tổng số bảo tàng ở Hàn quốc là 174 bảo tàng tính đến năm 1997 trong đó bao gồm 23 bảo tàng quốc gia, 24 bảo tàng công cộng, 47 bảo tàng tư nhân và 80 bảo tàng thuộc các trường đại học. Thư viện quốc gia Hàn quốc thu thập và bảo tồn các loại sách và tài liệu vốn là một phần  của di sản văn hóa quốc gia. Thư viện quốc gia cũng có trách nhiệm trong việc phát triển hệ thống thư viện hiện đại, chuẩn hoá các thư mục, hỗ trợ và nghiên cứu cho các thư viện khác, thiết lập cơ sở dữ liệu về thư mục quốc gia. Đồng thời Thư viện quốc gia tổ chức mạng lưới Hệ thống Thông Tin thư viện Hàn quốc (KOLIS-NET) và liên kết với các tổ chức nước ngoài bao gồm Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Thư viện (IFLA), Liên đoàn Tài liệu quốc tế (FID) và Hội đồng Lưư trữ quốc tế (ICA).

Bảo tàng quốc gia Hàn Quốc là một tổ chức công cụ với các nhiệm vụ như khai quật, thu thập, nghiên cứu, bảo tồn, trưng bày các di tích lịch sử và văn hoá, cung cấp các chương trình giáo dục và xã hội nhằm mục đích củng cố và nâng cao sự hiểu biết về văn hoá truyền thống. Bảo tàng cũng thực hiện các chức năng về nghiên cứu lịch sử nghệ thuật Hàn Quốc và khôi phục nền nghệ thuật truyền thống và thủ công trong các hoạt động sống hằng ngày. Đây là nơi lưu trữ của 120.000 di sản khảo cổ học và nghệ thuật, bộ sưu tập gồm 4.500 di vật lịch sử được trưng bày tại 18 triển lãm nghệ thuật hàng năm tại Hàn Quốc.

Bảo tàng Dân Gian quốc gia được thành lập nhằm mục đích đảm bảo sự hiểu biết tốt hơn về văn hoá truyền thống, trưng bày các di vật lịch sử và vật dụng thời xưa trong hoạt động hằng ngày. Bảo tàng cũng hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu so sánh nền giữa xã hội Hàn Quốc với xã hội các nước về phong tục truyền thống và xuất bản chuyên đề và sách liên quan.

5.5. Nghệ thuật biểu diễn

Hiện nay, 276 cơ sở  đang phục vụ các hoạt động biểu diễn nghệ thuật ở Hàn Quốc bao gồm 44 khu liên hợp nghệ thuật, 89 Hội trường lớn biểu diễn nghệ thuật công cộng, 133 hội trường biểu diễn quy mô nhỏ, 254 rạp chiếu phim, 495 nhà hát quy mô nhỏ. Theo niên  giám văn hoá và nghệ thuật năm 1996, số lượng các buổi biểu diễn nghệ thuật bao gồm 1.380 về âm nhạc truyền thống, 3.193 về âm nhạc cổ điển Phương tây và 1.850 vở kịch, 1.492 buổi biểu diễn múa. Nhiều sự kiện văn hoá lớn cũng đã diễn ra ở khu vực này như: Liên hoan Nghệ thuật sân khấu Seoul, Liên Hoan Nghệ thuật Sân khấu toàn quốc, Liên hoan Múa Seoul, Liên hoan Múa toàn quốc, Liên hoan Âm nhạc Seoul, Liên hoan Âm nhạc quốc gia, Liên hoan Nghệ thuật truyền thống quốc gia, Liên hoan âm nhạc giao hưởng truyền thống quốc gia, Hội thi Âm nhạc dân gian quốc gia và nhiều sự kiện văn hoá diễn ra tại các địa phương.

Nhà hát Lớn được thành lập năm 1950 với mục đích bảo tồn các hình thức nghệ thuật truyền thống và phát triển nghệ thuật đương thời. Đây là nơi quy tụ 7 đoàn nghệ thuật thành viên: Đoàn Kịch quốc gia, Đoàn Ch’anggkuk quốc gia, Đoàn Múa quốc gia, Đoàn múa Ba lê quốc gia, Đoàn dàn hợp xướng quốc gia và Đoàn hát Opera quốc gia. Trung tâm biểu diễn nghệ thuật truyền thống quốc gia có vai trò quan trọng trong hoạt động nghiên cứu và bảo tồn các dụng cụ và nền âm nhạc truyền thống. Trung tâm tiến hành các cuộc nghiên cứu về sự phát triển của các dụng cụ và các loại hình âm nhạc truyền thống. Trung tâm cũng xuất bản các bảng tổng phổ âm nhạc truyền thống, tài liệu nghiên cứu và các loại sách tham khảo khác. Trung tâm là nơi tổ chức các hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống trước công chúng như: tổ chức thường xuyên 80 buổi hoà nhạc các buổi hoà nhạc Thứ bảy, các buổi hoà nhạc tại các nơi thiệt thòi về văn hoá và tại nước ngoài. Kết hợp với các đoàn nghệ thuật múa và âm nhạc trực thuộc, Trung tâm tổ chức các nghi lễ âm nhạc tại Lăng mộ cổ Hoàng gia và Lăng mộ Khổng tử.

Nhà văn hóa Sejong
Nhà văn hóa Sejong

Giáo dục về âm nhạc và các điệu múa truyền thống Hàn Quốc là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của trung tâm với việc lập ra và điều hành rất nhiều các chương trình như: khoá học kéo dài ba tuần cho người mới bắt đầu học về điệu múa và âm nhạc truyền thống, khoá học một năm về các nhạc cụ truyền thống, khoá học cho các giáo viên trung học, sinh viên và giảng viên đi tới các khu vực khác để tìm hiểu về văn hoá truyền thống.

Trung tâm Nghệ thuật Seoul là một khu liên hợp các loại hình nghệ thuật đươc xây dựng nhằm cung cấp cơ sở cho các hoạt động biểu diễn của các nhà nghệ thuật và phục vụ khán giả để đóng góp tốt nhất cho quá trình sáng tạo và phát triển của nền văn hoá quốc gia.

Trung tâm được thành lập năm 1998. Trong thời gian gần đây, trung tâm đã thu hút sự tham gia của 10 triệu người tham gia và hàng năm trên 1 triệu người tham gia vào các hoạt động nghệ thuật được tổ chức tại trung tâm. Trung tâm quản lí các tổ chức trực thuộc như Phòng hoà nhạc, các hội trường lớn tổ chức nghệ thuật như Nhà hát Opera, Nhà hát kịch, Nhà hát Thử nghiệm, Triển lãm nghệ thuật, Thư viện nghệ thuật, Căn phòng thư pháp và Công viên văn hoá. Trung tâm tổ chức hầu hết các buổi biểu diễn về các loại hình nghệ thuật từ nhạc giao hưởng Phương tây tới các buổi biểu diễn kịch của trẻ em. Đồng thời trung tâm cũng tổ chức liên hoan nhạc giao hưởng, liên hoan âm nhạc thính phòng, liên hoan nhạc pan, buổi hoà nhạc với các tác phẩm mới về âm nhạc truyền thống của Hàn Quốc và âm nhạc Phương tây, buổi hoà nhạc quốc tế và liên hoan các bài hát thánh ca quốc tế. Trung tâm cũng thực hiện chương trình phát triển mạnh các loại hình sáng tác nghệ thuật.

5.6. Nghệ thuật trưng bày

Theo số liệu thống kê năm 1997, Hàn Quốc có tổng số 32 bảo tàng nghệ thuật trong đó bao gồm 1 bảo tàng quốc gia, 4 bảo tàng công cộng và 26 bảo tàng tư nhân. Có khoảng 269 trung tâm triển lãm và 337 phòng trưng bày tư nhân hoạt động trên khắp cả nước.

Một cuộc thi cấp quốc gia được tổ chức hàng năm về các lĩnh vực như hội hoạ, thủ công, kiến trúc, nhiếp ảnh. Đại hội nghệ thuật Hàn quốc, Triển lãm thủ công Hàn Quốc, Đại hội nghệ thuật kiến trúc quốc gia, Triển lãm quốc gia về nhiếp ảnh là những cuộc thi được tổ chức nhàm mục đích khuyến khích phát triển các nhà nghệ thuật chuyên nghiệp. Đồng thời các cuộc thi này cũng nhằm mục đích nâng cao sự nhận thức của người dân về nghệ thuật trưng bày. Quỹ Nghệ thuật và Văn hoá Hàn Quốc (KCAF) hỗ trợ tổng số 96 dự án với kinh phí 460 triệu won (0,6 triệu đô la Mỹ) về lĩnh vực nghệ thuật trưng bày vào năm 1996.

Bảo tàng nghệ tuật đương thời quốc gia là một tổ chức quan trọng cung cấp phương thức tiếp cận toàn diện với xu hướng hiện nay về nghệ thuật đương thời của quốc gia và quốc tế. Nhiệm vụ của Bảo tàng là thu thập một cách hệ thống và bảo tồn các tác phẩm nghệ thuật và tích cực giới thiệu nghệ thuật Hàn Quốc ra thế giới và tiếp nhận các tác phẩm nghệ thuật nước ngoài thông qua mối quan hệ hợp tác với các bảo tàng trên thế giới.

5.7 Văn học

Theo niêm gián nghệ thuật và văn hoá năm 1996, tổng số 855 các loại tạp chí khác nhau đã được xuất bản trong lĩnh vực văn học bao gồm 704 tạp chí được xuất bản bởi nhiều hiệp hội các nhà văn. 4.411 các loại sách khác nhau được xuất bản và 226 sự kiện văn học đã được tổ chức. Quỹ Văn hoá và nghệ thuật Hàn Quốc thực hiện các chương trình hỗ trợ về tài chính nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các hoat động sáng tạo trong viết sách và khuyến khích nền văn học quốc gia phát triển. Các chương trình trợ giúp của KCAF bao gồm xuất bản các tạp chí của hiệp hội các nhà văn, xuất bản và phân phối các tạp chí định kì văn học Hàn quốc và xuất bản các sách văn học Hàn Quốc với hệ thống chữ nổi dành cho những người mù…vv. Tổng số tiền hỗ trợ từ quỹ KCAF cho 170 dự án khác nhau trong lĩnh vực văn học trong năm 1996 là 15,7 tỉ won (19,5 triệu đô la Mỹ).

5.8. Cơ sở Dữ liệu thông tin về Văn hoá và Nghệ thuật

Với sự công nhận vai trò quan trọng của các thông tin có hệ thống, chính phủ Hàn Quốc trong thời gian gần đây đã tiến hành một loạt các hành động liên quan đến việc ban hành các luật về thông tin. Luật Tăng cường Thông tin đã được ban hành năm 1995 và Uỷ Ban Tăng cường thông tin được điều hành bởi Thủ tướng Hàn Quốc được thành lập vào tháng 4 năm 1994. Sau đó, vào tháng 6 năm 1996, chính phủ đã đưa ra bản công bố “Kế hoạch Tăng cường Phát triển thông tin”.

Như là một phần trong kế hoạch, Kế hoạch tăng cường phát triển thông tin về văn hoá được lập ra vào năm 1996 bao gồm ba giai đoạn: giai đoạn một (1995-1997), giai đoạn hai (1998-2000) và giai đoạn ba (2000-2010). Cơ sở dữ liệu thông tin được hoàn thành năm 1997 bao gồm Hệ Thống Dữ liệu thông tin Tài sản Văn hóa, Hệ thống Dữ liệu thông tin Thư viện, Hệ thống dữ liệu thông tin Bảo tàng và Hệ thống dữ liệu thông tin nghệ thuật. M0ột cơ sở dữ liệu bao gồm xấp xỉ 3.300 phương cách tiếp cận thông tin về Kho báu quốc gia, khu di tích lịch sử và kho báu thông qua các phương tiện thông tin như sách báo, tranh ảnh và âm thanh Hệ thống cơ sở dữ liệu về Tài sản Văn hoá và 4000 phương cách tiếp cận với hệ thống Quản lý thông tin về Tài sản văn hoá Công cộng. Có 1000 cách thức tiếp cận thông tin về Bảo tàng Quốc gia trên Hệ thống Dữ liệu thông tin Bảo tàng. Hệ thống Dữ liệu Thông tin thư viện là một hệ thống thông tin điện tử kết nối với 9 bảo tàng lớn trên cả nước với mục đích nhằm khuyến khích việc sử dụng danh sách đầy đủ về các loại sách tham khảo quốc gia và chuẩn hoá trong quản lí thông tin. Hệ thống dữ liệu Bảo tàng với dung lượng 1000 thông tin về các tác phẩm được sưu tầm, 1200 về các nhà nghệ thuật và các thông tin về các sự kiện triển lãm nghệ thuật, giới thiệu về bảo tàng…vv. Hệ thống Dữ liệu Nghệ thuật thiết lập một cơ sở dữ liệu bao gồm các thông tin về điện ảnh, kịch, âm nhạc và nghệ thuật truyền thống.
[do action=”post_credit”]Cinet[/do]

THAM GIA BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập nội dung bình luận!
Vui lòng nhập họ và tên của bạn