Hiệp định thương mại tự do Việt Hàn (VKFTA)

0
498
Nhấn vào quảng cáo để hỗ trợ TTHQ™.

HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT- HÀN (VKFTA)

1. Định nghĩa

Hiệp định thương mại tự do (자유무역협정, FTA) là một Hiệp ước thương mại giữa hai hoặc nhiều quốc gia. Theo đó, các nước sẽ tiến hành theo lộ trình việc cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan cũng như phi thuế quan nhằm tiến tới việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do.

HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT- HÀN (VKFTA) được chính thức ký kết vào sáng ngày 5/5/2015 tại Hà Nội. Đại diện Việt Nam là Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng và đại diện Hàn Quốc là Bộ trưởng Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc Yoon Sang-jick.

FTA

2. Lịch sử đàm phán

Việt Nam đã chính thức trở thành đối tác thứ 15 ký Hiệp định thương mại tự do (FTA) với Hàn Quốc sau chín vòng đàm phán diễn ra từ tháng 8 năm 2012 đến nay.

Trên thực tế, Hàn Quốc và Việt Nam từng ký kết thỏa thuận tự do thương mại thông qua FTA Hàn-ASEAN. Tuy nhiên, Việt Nam là nước tham gia sau vào FTA Hàn-ASEAN do đó, các nhóm sản phảm được miễn thuế quan theo hiệp định này bị đẩy sang thời điểm là vào năm 2020. Bên cạnh đó, hiện đang có hơn 3.000 doanh nghiệp Hàn Quốc hoạt động tại Việt Nam, và 30% tổng xuất khẩu của Việt Nam là sang Hàn Quốc. Do đó, cả hai bên đều đang rất khẩn trương để tiến tới xóa bỏ các hàng rào thuế quan song phương. Vào năm ngoái (2014), trong chuyến thăm và làm việc tại Hàn Quốc nhân dịp Hội nghị cấp cao kỷ niệm 25 năm Quan hệ Đối thoại ASEAN-Hàn Quốc (1989-2014), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye đã thông báo kết thúc đàm phán FTA song phương Việt – Hàn.

3. Nội dung

– Là FTA mang tính toàn diện, có mức độ cam kết cao và đảm bảo cân bằng lợi ích, Hiệp định gồm 17 Chương, 208 Điều, 15 Phụ lục và 1 Thỏa thuận thực thi quy định.
Các nội dung chính của Hiệp định gồm: Thương mại hàng hoá, Thương mại Dịch vụ (bao gồm các Phụ lục về dịch vụ viễn thông, dịch vụ tài chính, di chuyển thể nhân), Đầu tư, Sở hữu trí tuệ, các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS), Quy tắc xuất xứ, Thuận lợi hóa hải quan, Phòng vệ thương mại, Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), Thương mại điện tử, Cạnh tranh, Hợp tác kinh tế, Thể chế và Pháp lý.

– Các thay đổi cụ thể:

+ Seoul và Hà Nội nhất trí mở cửa thị trường ở mức 94,6% và 92,2% cho nhau theo kim ngạch nhập khẩu của năm 2012.

+ Phía Hàn Quốc: các dòng thuế áp dụng đối với hoa quả nhiệt đới, tỏi, gừng, thịt lợn sẽ được dỡ bỏ trong vòng 10 năm, trong khi thuế đối với mật ong và tinh bột ngọt khoai tây sẽ được dỡ bỏ trong vòng 15 năm… Tuy nhiên, hiệp định này sẽ không bao gồm mặt hàng gạo, một sản phẩm được coi là “khá nhạy cảm” đối với Hàn Quốc trong quá đàm phán FTA song phương và đa phương với các nước và các thể chế kinh tế lớn trên thế giới.
Phía Hàn Quốc cũng sẽ hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực xây dựng, thực thi chính sách, nâng cao sức cạnh tranh trong những lĩnh vực mà Hàn Quốc có thế mạnh và Việt Nam có nhu cầu hợp tác như: Nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, công nghiệp điện tử, lọc hóa dầu, công nghiệp hỗ trợ…

+ Phía Việt Nam: xóa bỏ thuế quan đối với sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Hàn Quốc sang nước này là hàng dệt may trong vòng ba năm, miễn thuế phụ tùng xe ô tô và thiết bị thông tin liên lạc không dây trong vòng năm năm sau khi hiệp định có hiệu lực.
Đặc biệt, theo FTA Hàn-Việt, Việt Nam sẽ mở cửa cả thị trường ô tô, xe chở hàng, mỹ phẩm và hàng điện gia dụng cho Hàn Quốc, vốn không có trong FTA giữa Hàn Quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

*** Được và mất xung quanh FTA Hàn Việt:

– Về phía Việt Nam:

+ Hiệp định này sẽ tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho người lao động Việt Nam, nâng cao thu nhập, nhất là của nhóm lao động phổ thông, lao động không có tay nghề cao, góp phần xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn.

+ Khả năng cạnh tranh yếu:
FTA trong thời đại mới được ví như “trận đấu bóng đá tốc độ cao mang tính tấn công. Nếu không ghi được bàn nhiều, anh sẽ bị ghi bàn nhiều”. Như vậy nếu không có năng lực canh tranh thì tự nhiên người tham gia sẽ bị lấn án và bị đào thải. Một điểm nổi bật trong quá trình hội nhập là Việt Nam đang là nước ký nhiều FTA nhất thế giới và khu vực. Mặc dù từ năm 2012-2014 Việt Nam đều xuất siêu nhưng xuất siêu chủ yếu là gia công lắp ráp cho nước ngoài. DN nói muốn tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng thực tế, các tập đoàn xuyên quốc gia (TNC) đã nắm hết mạng sản xuất toàn cầu, do đó chúng ta chỉ có thể cộng tác với TNC để họ “nhường” cho mình phần nào đó, khâu nào đó trong chuỗi sản xuất để có giá trị gia tăng.

+ Doanh nghiệp trong nước có nguy cơ bị thôn tính
Đây là thách thức lớn đối với các DN Việt Nam hiện đang bị đánh giá yếu kém trên các mặt quản trị kém, tầm nhìn hạn chế. Ngoài ra, uy tín thương hiệu thấp, ngay cả trên sân nhà, người tiêu dùng Việt Nam bị đánh giá là “sính ngoại”. Bên cạnh đó, chiến lược kinh doanh quốc tế của các DN mờ nhạt, khá thụ động trong cuộc chơi toàn cầu hóa. Điều này sẽ đẩy các DN Việt Nam vào nguy cơ làm thuê cả đời, nhận cấu phần ô nhiễm, có giá trị gia tăng thấp, dẫn đến nguy cơ bị thôn tính…

+ Sự tràn làn hàng hóa Hàn Quốc vào thị trường Việt Nam
Sau Trung Quốc thì dự đoán trong thời gian sắp tới, các sản phẩm của Hàn Quốc (điện tử, điện lạnh, mỹ phẩm, thời trang) cũng sẽ tràn ngập thị trường Việt Nam. Lúc này khẩu hiệu “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” sẽ có nguy cơ chuyển thành “Người Việt Nam dùng hàng chất lượng cao Hàn Quốc”.

– Về phía Hàn Quốc

+ Ưu thế xuất khẩu:
Khi hàng rào thuế quan được gỡ bỏ, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Hàn Quốc như ô tô, điện tử được kỳ vọng sẽ có được ưu thế về mặt giá cả.
+ Ảnh hưởng tiêu cực tới nông nghiệp Hàn Quốc
Các mặt hàng nông thủy sản và chăn nuôi vốn có khả năng cạnh tranh thấp sẽ chịu thiệt hại trước sự tràn ngập sản phẩm giá rẻ từ nước ngoài. Bởi vậy mà mỗi khi Hàn Quốc ký kết FTA thì bao giờ những người nông dân Hàn Quốc cũng là người lên tiếng phản đối đầu tiên.

Nhấn vào quảng cáo để hỗ trợ TTHQ™

THAM GIA BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập nội dung bình luận!
Vui lòng nhập họ và tên của bạn