Mã văn hóa: Quốc hiệu “Đại Hàn Dân Quốc”

0
959

Mọi người vẫn quen gọi là ‘한국’Hàn Quốc, nhưng thực ra đây chỉ là cách nói rút gọn từ tên gọi chính thức là “대한민국”Đại Hàn Dân Quốc. Vậy cái tên “Đại Hàn Dân Quốc”(大韓民國), này có ý nghĩa gì?

Nhiều người lý giải chữ “Hàn” có nghĩa là là “lạnh”- chỉ Hàn Quốc là dân tộc nằm ở vùng xứ lạnh, nhưng đây là cách hiểu hoàn toàn sai. Chữ Hàn được ghi trong sử sách Trung Quốc là “韓” nhưng từ này không có liên quan và không chịu ảnh hưởng của tiếng Hán mà là tiếng Hàn gốc. Khoảng thế kỷ IV trước C.N, ở trung nam của bán đảo Hàn đã xuất hiện ba nước nhỏ: Mã Hàn, Biền Hàn, Chấn Hàn, trong sử sách là “Tam Hàn”. Chữ “Hàn” trong “Tam Hàn” là ký âm tự của từ “Han” trong tiếng Hàn Quốc, có nghĩa là “đại” (lớn). Khi đó do Hàn Quốc chỉ có ngôn ngữ mà chưa có chữ viết, vì vậy không có cách nào dùng chữ viết để ghi lại tên những quốc gia này, cho nên đã phải dùng cách thông dụng thời đó là lấy chữ Hán ghi lại ngữ âm Hàn Quốc, mượn chữ “Hàn” trong chữ Hàn Quốc của lịch sử Trung Quốc.

Năm 1897, Triều Tiên Lý thị vương triều quân chủ Lý Hi (1852 – 1919) để duy trì phong kiến thống trị, quyết định đổi quốc hiệu là “Đại Hàn Đế Quốc”, gọi tắt là “Đại Hàn” hay “Hàn”. Tuy nhiên tuổi thọ của tên “Đại Hàn Đế Quốc” không dài. Tháng 8 năm 1910, đám giặc bán nước Triều Tiên Lý Hoàn Dụng cấu kết với chính phủ Nhật Bản đã ký kết “Hiệp ước Nhật – Hàn”, khiến Triều Tiên bị mất chủ quyền, trở thành thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản. Khi Triều Tiên rơi vào tay Nhật Bản năm 1910, tên này lại đổi thành Joseon (Triều Tiên, chính thức theo tiếng Nhật đọc là Chosen). Trong thời kỳ này có nhiều nhóm khác nhau ở bên ngoài Triều Tiên đấu tranh cho nền độc lập của dân tộc này, trong đó có Daehan Minguk Imsi Jeongbu (대한민국 임시정부, 大韓民國 臨時政府, nghĩa là “Đại Hàn Dân Quốc lâm thời chính phủ”; tiếng Anh dịch là Provisional Government of the Republic of Korea). Triều Tiên trở nên độc lập sau khi Nhật Bản bại trận năm 1945. Đất nước Triều Tiên khi đó bị chia đôi, miền Bắc do Liên Xô chiếm đóng và miền Nam do Mỹ chiếm đóng.

Miền Nam năm 1948 đã lấy tên chính phủ lâm thời đã chọn là Daehan Minguk (대한민국, 大韓民國, tức “Đại Hàn Dân quốc”; tiếng Anh dịch là Republic of Korea) để tự đặt cho mình. Trong khi đó miền Bắc trở thành Chosŏn Minjujuŭi Inmin Konghwaguk (조선 민주주의 인민공화국, 朝鮮民主主義人民共和國, tức “Triều Tiên Dân chủ chủ nghĩa Nhân dân Cộng hòa quốc”; hay Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, tiếng Anh dịch là Democratic People’s Republic of Korea).

Ngoài tên Hàn Quốc, ta còn thấy người phương Tây dùng từ “Korea”. Từ này có nguồn gốc từ thời đại 고려 Goryeo (918~1392). Vào thời này, Hàn Quốc có thông thương với những lái buôn đến từ Ả Rập và những lái thương này gọi Goryeo bằng cái tên “Coree” hay “Corea, Korea”. Đây chính là nguồn gốc của cái tên mà người phương Tây vẫn hay dùng để gọi Hàn Quốc ngày nay là “Korea”.

THAM GIA BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập nội dung bình luận!
Vui lòng nhập họ và tên của bạn