Thời hạn làm việc và hạn chế về nơi làm việc

0
540

Thời hạn người có tư cách lưu trú là ngành nghề lao động phi chuyên môn (E-9) hoặc Thăm thân và làm việc (H-2) được làm việc tại Hàn Quốc theo “Luật liên quan đến việc sử dụng lao động người nước ngoài” là 3 năm, người có tư cách lưu trú là ngành nghề lao động phi chuyên môn (E-9) thì chỉ được làm việc lại sau khi đã qua 6 tháng kể từ ngày xuất cảnh.

Người có tư cách lưu trú là ngành nghề lao động phi chuyên môn (E-9) bắt buộc phải làm việc ở nơi làm việc đã kí hợp đồng lao động, trong trường hợp có lí do bất đắc dĩ thì có thể được ngoại lệ thay đổi nơi làm việc.
Hạn chế thời gian làm việc và các trường hợp đặc biệt

Nguyên tắc
– Lao động người nước ngoài được làm việc trong vòng 3 năm kể từ ngày nhập cảnh (Điều 18, “Luật liên quan đến việc sử dụng lao động người nước ngoài”).
– Trường hợp lao động người nước ngoài có tư cách lưu trú là ngành nghề lao động phi chuyên môn (E-9) thì sau khi xuất cảnh do đã hết thời gian 3 năm làm việc, phải sau 6 tháng kể từ ngày xuất cảnh mới được làm việc lại ở Hàn Quốc (Phần 3, điều 18 “Luật liên quan đến việc sử dụng lao động người nước ngoài”).

Các trường hợp đặc biệt trong việc hạn chế thời gian làm việc
– Lao động người nước ngoài được chủ sử dụng lao động xin Bộ trưởng Bộ lao đông việc làm cho phép tái sử dụng lao động trước khi xuất cảnh do hết hạn 3 năm làm việc thì được gia hạn thời gian làm việc 1 lần với thời hạn dài nhất là 2 năm và có thể kí hợp đồng lao động trong thời hạn làm việc đã được gia hạn (Phần 2 của điều 18, “Luật liên quan đến việc sử dụng lao động người nước ngoài”).

Nguyên tắc
– Lao động người nước ngoài có tư cách lưu trú là ngành nghề lao động phi chuyên môn (E-9) phải tiếp tục làm việc ở nơi làm việc ban đầu, không được bỏ đi khỏi nơi làm việc đầu tiên để đến làm việc tại nơi khác mà không có lí do chính đáng.

Cho phép thay đổi ngành nghề hoặc nơi làm việc
* Lí do thay đổi nơi làm việc
– Trong trường hợp lao động người nước ngoài khó có thể tiếp tục mối quan hệ lao động bình thường tại nơi làm việc hoặc ngành nghề do xảy ra một trong những trường hợp dưới đây thì trong vòng 1 tháng sau khi kết thúc hợp đồng lao động phải đăng kí thay đổi ngành nghề hoặc nơi làm việc khác với Trung tâm hỗ trợ việc làm [từ khoản 1 đến khoản 3 điều 25, “Luật liên quan đến việc sử dụng lao động người nước ngoài”, Khoản 1 điều 30 “Lệnh thi hành Luật liên quan đến việc sử dụng lao động người nước ngoài” và “Thông báo lí do thay đổi nơi làm việc không do lỗi của lao động người nước ngoài”(Thông báo số 2012-5 của Bộ Lao động việc làm, ban hành- thi hành ngày 2 tháng 7 năm 2012)].

1. Khi chủ sử dụng lao động muốn hủy hợp đồng lao động trong thời hạn hợp đồng lao động còn hiệu lực do có lí do chính đáng hoặc chủ lao động từ chối tái kí hợp đồng lao động sau khi đã hết hợp đồng lao động
2. Trường hợp được công nhận là không thể tiếp tục làm việc do doanh nghiệp hoặc nơi kinh doanh ngừng kinh doanh hoặc phá sản
3. Trường hợp được công nhận là không thể tiếp tục làm việc do người sử dụng lao động vi phạm điều kiện lao động hoặc bị đối xử không tốt
4. Khi được công nhận là lao động người nước ngoài không thích hợp để tiếp tục làm việc trong ngành nghề tương ứng do bị tàn tật…vv nhưng có thể làm việc trong ngành nghề hoặc nơi làm việc khác.

*Đăng kí thay đổi nơi làm việc
-Trong trường hợp lao động người nước ngoài muốn thay đổi ngành nghề hoặc nơi làm việc do các nguyên nhân nêu trên thì trong vòng 1 tháng sau khi kết thúc hợp đồng lao động phải nộp Đơn xin thay đổi nơi làm việc (mẫu số 13 tài liệu đính kèm “Quy tắc thi hành Luật liên quan đến việc sử dụng lao động người nước ngoài” hoặc mẫu số 2 trong tài liệu đính kèm số 13 “Quy tắc thi hành luật liên quan đến việc làm của lao động người nước ngoài”) cùng với các giấy tờ tài liệu dưới đây cho Giám đốc trung tâm hỗ trợ việc làm có thẩm quyền quản lí nơi làm việc (Khoản 3 điều 25 “Luật liên quan đến việc sử dụng lao động người nước ngoài” và điều 16 “Quy tắc thi hành Luật liên quan đến việc sử dụng lao động người nước ngoài”).

1. Bản sao hộ chiếu (Chỉ áp dụng đối với trường hợp không xác định được việc đăng kí người nước ngoài).
2. Giấy tờ, tài liệu chứng minh người lao động đó thuộc đối tượng có lí do thay đổi nơi làm việc (Chỉ áp dụng đối với trường hợp Giám đốc trung tâm hỗ trợ việc làm yêu cầu).
– Lao động người nước ngoài làm việc tại nơi làm việc mới do các lí do trên phải xin đăng phép thay đổi nơi làm việc tại Phòng Quản lí xuất nhập cảnh hoặc Chi nhánh của phòng Quản lí xuất nhập cảnh có thẩm quyền trước khi bắt đầu làm việc (Khoản 1, điều 21 “Luật Quản lí xuất nhập cảnh”)

※ Trong vòng 3 tháng sau khi xin thay đổi nơi làm việc mà không được cho phép thay đổi nơi làm việc theo “Luật Quản lí xuất nhập cảnh” [Chỉ áp dụng đối với lao động người nước ngoài có tư cách lưu trú là Ngành nghề lao động phi chuyên môn (E-9) hoặc không đăng kí thay đổi nơi làm việc trong vòng 1 tháng sau khi kết thúc hợp đồng với chủ sử dụng lao động thì phải xuất cảnh khỏi Hàn Quốc. Tuy nhiên, trong trường hợp không xin phép thay đổi nơi làm việc được hoặc không thể đăng kí thay đổi nơi làm việc do các nguyên nhân như tai nạn nghề nghiệp, bệnh nghề nghiệp, có thai, sinh con…vv thì phải xin phép thay đổi nơi làm việc trong vòng 3 tháng kể từ ngày không còn các lí do trên hoặc phải đăng kí thay đổi nơi làm việc trong vòng 1 tháng kể từ ngày không còn các lí do trên (Khoản 3, điều 25
“Luật liên quan đến việc sử dụng lao động người nước ngoài”).

* Hạn chế thay đổi ngành nghề hoặc nơi làm việc
– Về nguyên tắc, lao động người nước ngoài không được thay đổi ngành nghề hoặc nơi làm việc quá 3 lần trong thời gian 3 năm làm việc kể từ ngày nhập cảnh (Khoản 1 điều 18 “Luật liên quan đến việc sử dụng lao động người nước ngoài”) (Khoản 4, điều 25 “Luật liên quan đến việc sử dụng lao động người nước ngoài”).
– Trước khi xuất cảnh do hết hạn 3 năm làm việc, trong trường hợp lao động người nước ngoài được gia hạn thời gian lao động do chủ sử dụng yêu cầu được cho phép tái sử dụng lao động thì lao động người nước ngoài không được thay đổi ngành nghề hoặc nơi làm việc quá 2 lần trong thời gian được gia hạn (Khoản 4, điều 25 “Luật liên quan đến việc sử dụng lao động người nước ngoài”).

※ Trường hợp được công nhận là không thể tiếp tục làm việc tại nơi làm việc đó do các nguyên nhân như doanh nghiệp tạm thời đóng cửa, phá sản và các nguyên nhân không thuộc trách nhiệm của lao động người nước ngoài thì những trường hợp thay đổi nơi làm việc hoặc ngành nghề do các nguyên nhân trên không bị hạn chế bởi số lần thay đổi nơi làm việc quy định ở điều trên (Khoản 4, điều 25 “Luật liên quan đến việc sử dụng lao động người nước ngoài”).

Xử phạt khi cản trở việc thay đổi nơi làm việc
– Người gây cản trở việc thay đổi ngành nghề hoặc nơi làm việc của lao động người nước ngoài sẽ bị phạt tù dưới 1 năm hoặc phạt nhiều nhất là 10.000.000 won (Số 4 điều 29 ‘Luật liên quan đến việc sử dụng lao động người nước ngoài”).

THAM GIA BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập nội dung bình luận!
Vui lòng nhập họ và tên của bạn