26.7 C
Seoul
Thứ Bảy, 15 Tháng 8, 2020

Tiếng Hàn thú vị- Bài 30: “양반” và “마누라”, hai đại từ nhân xưng đậm chất “thổ địa”

Cần biết

Virus Vũ Hán: Ba đặc điểm khiến Hàn Quốc trở thành hình mẫu chống dịch hiệu quả

Trong chiếc xe đỗ sau một bệnh viện tại Seoul, Rachel Kim kéo cửa kính ôtô và há...

Tự cách ly ở Hàn Quốc & Giải đáp 4 thắc mắc thường gặp

1. Có được cách ly tại phòng trọ không? Trường hợp nào bắt buộc cách ly tập trung? Đây...

Hình phạt trốn cách ly COVID-19 ở Hàn Quốc & một số quốc gia trên thế giới

Dịch COVID-19 lây lan nhanh chóng gây nên tâm lý hoang mang lo sợ trong cộng đồng. Chính...
Thông tin Hàn Quốc
TTHQ Group: Chia sẻ thông tin về Hàn Quốc và học hỏi các kinh nghiệm du lịch, làm visa, hồ sơ thủ tục kết hôn ở Hàn Quốc... ✓ Kênh Youtube của TTHQ: Chia sẻ những clip chất lượng cao với nội dung đa dạng về các bài giảng tiếng Hàn, về phỏng vấn những người đang sống ở Hàn Quốc, về văn hóa và du lịch Hàn Quốc...
Khi nói chuyện, tiếp xúc với người Hàn Quốc, chắc hẳn chúng ta sẽ có cơ hội nghe thấy một số cách xưng hô như “양반” hay “마누라”. Đây là cách xưng hô không chính thống, nhưng lại mang đậm tính thổ địa và chứa đựng những câu chuyện lịch sử vô cùng thú vị. Các bạn hãy cùng TTHQ™ tìm hiểu về hai đại từ nhân xưng này nhé!

양반

Ở bán đảo Triều tiên, từ triều đại Goryeo – triều đại của quý tộc, xã hội bắt đầu hình thành một tầng lớp quý tộc chiếm một phần nhỏ trong xã hội gọi là ‘양반’.

Yangban có nghĩa là ‘lưỡng ban’ tức ‘hai hàng’ là tên gọi ghép của tầng lớp quý tộc xã hội Triều Tiên ngày xưa gồm: ban đông ‘동반’ tức là quan văn và ban tây ‘서반’ tức là quan võ. Sang triều đại Joseon thì tên gọi này để chỉ chung tầng lớp quan lại, quý tộc có chức vị trong triều đình nhà vua, ngay cả con cháu bà con dòng họ của tầng lớp này cũng được gọi chung thành Yangban.

Tuy nhiên đến cuối triều đại Joseon, đặc biệt là sau chiến tranh chống quân xâm lược Nhật Bản của người dân trên bán đảo Hàn Quốc vào thế kỷ XVI gọi là Imjinwaeran, tức “biến loạn Nhâm Thìn”(1592-1598), đa phần tầng lớp này bỏ của chạy lấy người, để người dân một mình chống chọi ngoại xâm. Vì vậy người dân cảm thấy vô cùng thất vọng, khinh ghét tầng lớp “Yangban” bỏ trốn này.

Đến thời gần cận đại (thế kỷ 19), khi kinh tế phát triển, dân buôn bán bắt đầu có tiền của cũng được quyền gia nhập giới Yangban, kết quả toàn bán đảo Hàn Quốc có đến gần 70% là Yangban, vì thế vị trí xã hội của tầng lớp này tụt xuống và cách gọi Yangban không còn được trang trọng như trước nữa.

Yangban được dùng như một từ nhân xưng ngôi thứ hai trong đời sống hàng ngày ở Hàn Quốc. Nếu như đại từ nhân xưng “너” (Mày), được dùng để gọi những người kém tuổi hoặc ngang hàng thì “Yangban” là được dùng như một đại từ nhân xưng ngôi số ba, tức là khi kể về một người lớn tuổi, có địa vị, có thể dùng “그 양반…., 저 양반….” (Cái ông đó, cái vị kia). Hoặc khi cãi nhau, va chạm trên đường “Yangban” được dùng như đại từ nhân xưng ngôi thứ hai, ví dụ như khi va chạm với một người đàn ông tầm tuổi trung niên trở lên, người Hàn Quốc cũng hay nói: “이 양반은 운전 똑바로 안해?” (Cái ông này lái xe phải cẩn thận vào chứ!)

마누라

Một cách xưng hô khác ngày xưa vốn được dùng với sắc thái trang trọng, nay lại hóa xuề xòa là từ ‘마누라’.

Nguồn gốc của từ này bắt nguồn từ thời nhà Nguyên (Mông cổ ngày nay) khi nhà nước này thống trị cả châu Á và một phần châu Âu hồi thế kỉ 12 đến 14 và trong thời gian nhà Nguyên thống trị Triều tiên(thời kì cuối của Goryeo) thì từ này cũng bắt đầu được sử dụng. Từ này ban đầu đọc là ‘마노라’ (Ma-no-ra) và khi đó là đại từ nhân xưng trang trọng dùng khi nô lệ hoặc người hầu gọi chủ nhân mình. Trong một thư sách có tên là Hàn Trung lục (한중록) còn ghi từ “Ma-no-ra” còn dùng để gọi những người có vị trí cao quý như “vua, hoàng hậu, hoàng tử, công chúa…” không phân biệt nam nữ.

Ngày nay, từ “마누라” (Ma-nu-ra) trong tiếng Hàn được dùng như một đại từ nhân xưng ngôi thứ ba, khi một người đàn ông (từ trung niên trở lên) kể về vợ mình “우리 마누라” (bà vợ nhà tôi, bà xã nhà tôi). Đây là cách gọi xuề xòa nên chỉ được dùng để nói về vợ mình thôi, còn khi đề cập đến…vợ người thì phải chuyển sang cách nói trang trọng là “부인” (Phu nhân) hay “아내” (vợ).

Nhân tiện, chúng ta cũng có thể bàn một chút về hiện tượng chuyển nghĩa đại từ nhân xưng thú vị trong Tiếng Việt. Bạn bè hay gọi nhau là “Cậu- Tớ“. Nhưng trước đây, trong quan hệ người chủ-người làm hay đầy tớ thì người làm (người ở đợ, làm công cho nhà giàu) phải gọi chủ mình là “cậu” và xưng “tớ”. Từ “cậu” còn là cách gọi em trai của mẹ ở miền Bắc hay gọi bố đẻ là “cậu”, gọi mẹ là “mợ” ở miền Nam thời xưa. Qua sự biến đổi của thời gian, mà “cậu- tớ” dần dần trở thành cách gọi bạn bè thân mật, gần gũi; đặc biệt được dùng nhiều ở miền Bắc.

Bài liên quan

Viết bình luận

Bài mới đăng

15 món đồ khó hiểu của idol khiến fan K-Pop sẵn sàng bỏ cả đống tiền để mua

Thế giới K-Pop vô cùng phong phú và đa dạng, nếu như ở thời đại trước ca sĩ là người cống hiến...

Miss Korea: Lịch sử 63 năm & Cuộc sống phía sau ánh hào quang vương miện hoa hậu

Trước khi bắt đầu câu chuyện về lịch sử Hoa hậu Hàn Quốc, độc giả hãy cùng đến một giai thoại lịch...

We Got Married: 10 năm với biết bao tranh cãi & Ký ức một thời của thế hệ 8x, 9x

We Got Married (우리 결혼 했어요), chương trình truyền hình thực tế nổi tiếng của đài MBC, ra mắt số đầu tiên...

Hàn Quốc tháng 7/2020: COVID-19 lan nhanh ở nhiều tỉnh thành & Nguy cơ đại dịch vào mùa thu

Bắt đầu từ ngày 3/7/2020, số ca nhiễm tại Hàn Quốc đã tăng trở lại ngưỡng 60 người...

Hàn Quốc kiến nghị Việt Nam ngừng cách ly 14 ngày và mở đường bay giữa hai nước

Sáng 30/6/2020, Bộ Ngoại giao Việt Nam phối hợp với Đại sứ quán Hàn Quốc (주 베트남 대한민국 대사관) tại Việt Nam...
error:

Toàn bộ nội dung trên website của TTHQ được bảo vệ theo Luật bản quyền quốc tế và Hàn Quốc. Vui lòng không sao chép hoặc tái bản dưới mọi hình thức.

© Copyright 2019 - Trang Thông tin Hàn Quốc.